Kế toán chi phí bảo dưỡng máy bay

Tình cờ đọc được bài báo về chính sách ghi nhận chi phí bảo dưỡng máy bay của VietJet nên tranh thủ ngồi viết bài bàn luận chút về vấn đề này.

Ngoài ra thì mình cũng có bài viết sau về chi phí sửa chữa tài sản cố định cũng liên quan tới chủ đề này, mọi người có thể đọc lại theo đường link bên dưới:

OK, vào chủ đề chính ngày hôm nay thì mình muốn bàn tới sự khác biệt cơ bản giữa chế độ kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế trong việc ghi nhận chi phí bảo dưỡng tài sản. Bài viết này sẽ thảo luận trong phạm vi các thông tin đưa ra từ trường hợp của VietJet.

1. Trước tiên nói về chế độ và chuẩn mực kế toán Việt Nam
Thông tư 200 cho phép trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ theo định kỳ ghi nhận vào chi phí trả trước, sau đó thực hiện dần việc phân bổ chi phí trả trước vào KQKD hàng năm. Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 18 yêu cầu “Nếu ảnh hưởng về giá trị thời gian của tiền là trọng yếu, thì giá trị của một khoản dự phòng cần được xác định là giá trị hiện tại của khoản chi phí dự tính để thanh toán nghĩa vụ nợ.”.

Như vậy, với chính sách ghi nhận kế toán của VietJet theo như thông tin đề cập trong bài viết là hoàn toàn phù hợp với chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán Việt Nam.

2. Quy định tại chuẩn mực kế toán quốc tế
Các quy định liên quan tại chuẩn mực kế toán quốc tế được quy định tại IAS 16 — Property, Plant and Equipment và IAS 37 — Provisions, Contingent Liabilities and Contingent Assets.

IAS 37 quy định về thời điểm ghi nhận của khoản dự phòng phải trả về chi phí bảo dưỡng. IAS 16 quy định về việc có capitalise các chi phí này hay không.
Theo quy định hiện hành tại IAS 37, doanh nghiệp chỉ được phép ghi nhận một khoản provision cho chi phí bảo dưỡng (major overhaul) khi doanh nghiệp có nghĩa vụ nợ hiện tại (present obligation). Đây là điểm khác biệt đầu tiên khi so sánh với thông tư 200.

IAS 16 yêu cầu các doanh nghiệp không trích trước chi phí bảo dưỡng/sửa chữa lớn TSCĐ mà vốn hóa vào giá trị tài sản khi phát sinh. Định kỳ sẽ thực hiện khấu hao giá trị này theo thời gian cho tới lần bảo dưỡng tiếp theo.
Tuy nhiên, trong những điều kiện nhất định, khi xác định rằng doanh nghiệp có nghĩa vụ nợ hiện tại, doanh nghiệp vẫn được phép ghi nhận dự phòng phải trả cho chi phí bảo dưỡng tài sản. Vấn đề chính ở đây nằm ở việc xác định khi nào thì doanh nghiệp có nghĩa vụ nợ hiện tại.

Trong trường hợp của VietJet, hợp đồng thuê tài sản yêu cầu “Đối với việc VietJet thuê hoạt động tàu bay, trong đó yêu cầu công ty trả lại tàu bay trong tình trạng đáp ứng được một số điều kiện bảo trì nhất định”. Như vậy, có thể xác định trong trường hợp này, VietJet đã có nghĩa vụ nợ liên quan tới việc bảo dưỡng tàu bay, hay nói cách khác, nghĩa vụ bảo dưỡng đã phát sinh không phụ thuộc vào các hành động của doanh nghiệp trong tương lai.

Khi xác định doanh nghiệp của nghĩa vụ nợ hiện tại, IAS 37 yêu cầu doanh nghiệp phải ghi nhận một khoản nợ phải trả cho chi phí bảo dưỡng. Giá trị nợ phải trả này được xác định hàng kỳ, dựa trên, ví dụ số giờ bay trong kỳ và được hạch toán vào chi phí phù hợp với chi phí khấu hao của TSCĐ. Như vậy, theo cách ghi nhận của chuẩn mực kế toán quốc tế, nợ phải trả và chi phí được ghi nhận dần hàng kỳ (đã bao gồm ảnh hưởng về giá trị thời gian của tiền) thay vì ghi nhận toàn bộ tài sản và chi phí tại thời điểm ban đầu theo cách ghi nhận của kế toán Việt Nam.

3. Một số ý kiến của người viết
Như vậy, việc ghi nhận giữa kế toán Việt Nam và kế toán quốc tế trong trường hợp cụ thể của VietJet vẫn có những sự khác biệt nhất định. Trong quá trình áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế đối với các trường hợp tương tự, kế toán cần chú ý một số vấn đề sau:

– Doanh nghiệp có nghĩa vụ nợ hiện tại liên quan tới việc bảo dưỡng tài sản hay không? Hay nói một cách khác, doanh nghiệp có thể thay đổi hành vi trong tương lại để tránh các nghĩa vụ này hay không?

– Chi phí được ghi nhận hàng kỳ tương ứng với việc ghi nhận nghĩa vụ nợ phải trả. Định kỳ, thực hiện unwinding of the discount và ghi nhận chi phí tài chính tương ứng với việc ghi tăng nghĩa vụ nợ phải trả.

– Mặc dù tổng chi phí ghi nhận là như nhau (do nghĩa vụ nợ cuối cùng không thay đổi), tuy nhiên hai cách ghi nhận trên có thể dẫn tới sự khác biệt về thời điểm ghi nhận chi phí giữa các năm cũng như cơ cấu chi phí trong việc phân loại giữa chi phí sử dụng tài sản và chi phí tài chính.

Don't miss out!
ĐĂNG KÝ NHẬN BẢN TIN

Đăng ký nhận thông báo khi có bài viết mới!

Invalid email address
Chúng tôi không gửi tin nhắn spam. Bạn có thể hủy đăng ký bất kỳ lúc nào.

Leave a Reply

avatar
  Subscribe  
Notify of
Share via
Copy link
Powered by Social Snap